Chúa Giêsu sống nghèo vì Ngài muốn liên kết với những người nghèo, những con người mà Ngài muốn loan báo ơn cứu độ. Ngài không lên án, không khai thác những người nghèo. Ngài cũng không phải là một con người mị dân. Ngài đến để chia sẻ nỗi băn khoăn lo lắng của họ. Ngài đến để công bố cho họ biết họ là những con người hạnh phúc: Hiến chương Nước Trời, phúc cho những người nghèo.Chúng ta đề cập đến ba lời khấn với sự trở về nguồn, trong những thách đố hiện tại.Xã hội đang trên đà phát triển, ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho người ta sống thoải mái. Nhưng chính trong đà phát triển như thế, người ta lại đặt ra bên lề xã hội vấn đề đạo đức và khổ chế.Trong đời sống thánh hiến, cũng có sự khủng hoảng liên quan tới bản chất của ơn gọi: đó là vấn đề nghèo khó. Ngày nay người ta đi tu nhưng đặt vấn đề sống thoải mái hay không chứ không đặt vấn đề về đời sống khó nghèo. Chúng ta cần trở về nguồn với Lời Chúa, với những truyền thống Giáo Hội để tìm ra ánh sáng soi dẫn chúng ta khi đứng trước những vấn đề nhạy cảm trong thế giới hôm nay.Những cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh trình bày sự nghèo khó như một tai họa, vì thế người ta tìm mọi cách để giải quyết vấn đề nghèo khó. Một cách độc đáo để giải quyết vấn đề nghèo khó trong Israel, đó là Năm Toàn Xá. Những ai vì túng thiếu, vì nợ nần chồng chất phải đi ở đợ… thì năm toàn xá họ được tha hết và được trở về đời sống xã hội, được hưởng thành quả do tay mình làm ra, người nghèo lấy lại được đất đai gia sản của mình.Trong Xh 23, 6 người ta đã luật hóa vấn đề nghèo khó “Ngươi sẽ không làm xiêu vẹo án xử của người nghèo” phải bênh vực cho những người nghèo trước tòa án, giải phóng người nghèo là tình liên đới chung trong xã hội.Khi đời sống xã hội đã được tổ chức trong một cơ cấu, đời sống kinh tế đã được định cư trên một vùng đất, thì các tiên tri xuất hiện để cảnh giác sự giàu có là một mối nguy, người ta có thể lãng quên Thiên Chúa.Trong Hs 13, 15: Hôsê tố giác rằng: đời sống giàu có đã làm người ta quên Thiên Chúa của Giao ước và quay về với các thần tượng. Vật chất trở nên các thần tượng cho người ta tôn thờ.Các tiên tri quan tâm và bảo vệ người nghèo, vì họ là đối tượng khai thác của những người giàu. Hình ảnh tiên tri Amos đưa ra: “Bởi chúng bán người lành với giá….” Các tiên tri đã chiến đấu với việc lạm dụng quyền lực và sự xúc phạm đến công bình của xã hội, đó là tội lỗi. Tội không trung thành với Lời Chúa, với Giao ước. Bởi vì qua Giao ước, một sự liên đới đặt nền tảng từ nơi chính Thiên Chúa đã liên kết dân Người trong cùng một tình huynh đệ. Nếu xúc phạm đến bất kỳ người nghèo nào trong dân Chúa là xúc phạm chính Chúa.Khi bảo vệ những người nghèo như thế, các tiên tri đã bắt đầu chú ý đến chiều kích thiêng liêng của sự nghèo khó. Những người nghèo nhìn chung quanh mình không có nơi nương tựa, nên họ đã chọn Thiên Chúa làm nơi nương tựa của mình. Người nghèo là người lựa chọn Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa cũng đứng về phía người nghèo và bênh vực họ “người nghèo là vị khách quý của Thiên Chúa.”Cũng ở trong viễn tượng những người nghèo như thế, các tiên tri đã khắc họa hình ảnh Đấng Mêsia, Người đến mang Tin Mừng cứu độ cho người nghèo.Sự nghèo khó đã có sự biến chuyển từ hiện tượng xã hội sang sự nghèo khó mang chiều kích thiêng liêng và ngày càng đề cao nơi những người đạo đức.Trong các Thánh Vịnh, sự nghèo khó có vai trò đáng kể trong lời cầu nguyện của Thiên Chúa. Một mặt, các Thánh Vịnh đề cập vấn đề giàu có như là phần thưởng Chúa dành cho những người công chính. Nhưng bên cạnh đó cũng có một lối nhìn về sự nghèo khó và có sự chiêm ngắm khuôn mặt của những người nghèo: những con người nghèo khó trong nỗi đau khổ của mình đã đặt sự tín thác nơi Thiên Chúa, bất chấp những cô độc thử thách.Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn là một lời cầu nguyện của người nghèo: “Lạy Chúa Trời tôi, nhân sao Chúa bỏ tôi.” (Tv 22)Có một sự nghèo khó làm cho người ta tin tưởng và phó thác, đem lại cho người ta một sự thanh thản bình an trong tâm hồn. Tv 34, 3-7: “Kẻ hèn này kêu lên và Chúa đã lắng nghe.” Trước mặt Thiên Chúa, nghèo hèn không còn là một sự tủi nhục, nhưng là một niềm vui, người ta tán dương Thiên Chúa. Khuôn mặt Thiên Chúa trong Thánh Vịnh là Thiên Chúa luôn cứu vớt những người nghèo.Sự nghèo khổ tự nó không có một giá trị gì. Chúng ta được kêu gọi chống lại sự nghèo khó trong xã hội. Nhưng sự nghèo khó là dịp để đạt đến sự giàu có thiêng liêng. Tv 22, 27: “Thiên Chúa sẽ cho những người nghèo được ăn uống no nê.”Trong các sách Giáo Huấn người ta đề cao sự nghèo khó không chỉ là tình trạng cá nhân mà là tình trạng cụ thể. Dân tộc Israel là một tập thể phải trở nên biểu tượng của sự nghèo khó. Chính trong sự nghèo khó đó, dân của Chúa mới ý thức vai trò và nhiệm vụ hoán cải: phải trở về với Thiên Chúa, phải hoán cải.Cựu Ước cho thấy sự tiến triển từ sự nghèo khó xã hội sang sự nghèo khó tâm linh. Bước sang Tân Ước, khuôn mặt của người nghèo trở nên đáng chú ý. Trước hết, Chúa Giêsu của các trang Tin Mừng là một Chúa Giêsu nghèo hèn, những trình thuật về cuộc đời thơ ấu của Ngài cho thấy sự lựa chọn của Chúa Giêsu đối với sự nghèo khó.Trong các giáo huấn của Ngài, Ngài cho thấy sự nghèo khó đồng nghĩa với tự do. Trong Mt 8, 20: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có nơi tựa đầu.” Con người của Đức Giêsu trở thành con người của sự tự do, hiền lành và khiêm nhường trong lòng.Sự nghèo khó làm cho người ta hoàn toàn trở nên dễ dàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa, ví dụ: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Thiên Chúa.” Chính sự nghèo khó đó làm cho Chúa Giêsu hoàn toàn đón nhận cái chết trên thập giá.Cuộc đời của Chúa Giêsu là một sự cổ vũ cho sự nghèo khó, giúp người ta ngày càng kết hợp với sự nghèo khó hơn. Sự lựa chọn của Đức Giêsu trong cuộc sống khó nghèo, cho thấy Ngài chính là Đấng Cứu Thế. Vì khuôn mặt của Đấng Cứu Thế đã được loan báo là khuôn mặt của người nghèo khó. Chính cuộc sống của Đức Giêsu đã hoàn tất những lời tiên tri, hoàn tất ý định của Thiên Chúa.Trong cuộc sống của Chúa Giêsu, Ngài đã trở nên nghèo khó trong mọi tình huống: Từ khi sinh ra, phải trốn tránh sang Ai Cập, bị các môn đệ và các bạn hữu phản bội và cuối cùng trên thập giá với một cái chết trần trụi, cái chết của một con người nghèo nàn tột đỉnh.Nhưng Ngài là một vị Thiên Chúa nghèo suốt cả cuộc đời để rồi giờ chết mới đem lại tất cả nguồn ân sủng cho con người. Chúa Giêsu sống nghèo vì Ngài muốn liên kết với những người nghèo, những con người mà Ngài muốn loan báo ơn cứu độ. Ngài không lên án, không khai thác những người nghèo. Ngài cũng không phải là một con người mị dân. Ngài đến để chia sẻ nỗi băn khoăn lo lắng của họ. Ngài đến để công bố cho họ biết họ là những con người hạnh phúc: Hiến chương Nước Trời, phúc cho những người nghèo. Ai được coi là người nghèo? Trước hết đó là những con người tội lỗi, đau yếu, túng quẫn, những khách kiều cư. Ngài loan báo cho họ ơn cứu độ không phải là mai sau mà ngay đời này họ đã là những con người được cứu độ.Đức Giêsu dành mối ưu tiên đặc biệt hơn cho những người nghèo, bởi vì những người nghèo là những con người dễ dàng vâng phục sứ điệp Tin Mừng cứu độ. Cho nên trong cái nhìn của Tin Mừng, những người nghèo là một bí tích, là một dấu chỉ. Tuyên ngôn của Hội đồng giám mục Châu Mỹ La Tinh năm 1993: Những người nghèo là bí tích của Thiên Chúa, vì trong và nơi mỗi người nghèo có sự ẩn náu của chính Đức Kitô và khi người ta phục vụ cho những người nghèo là người ta phục vụ cho Đức Kitô ở trong họ. Chính Chúa ở trong những người nghèo, hiện diện trong họ như một bí tích, một dấu chỉ.Lời của Thiên Chúa là lời loan báo một vị Thiên Chúa liên đới với sự nghèo khổ của con người, quan tâm đến những người nghèo đến nỗi Thiên Chúa đã trở nên nghèo để con người trở nên giàu.Cuộc đời thánh hiến là bước theo Đức Giêsu Kitô, chúng ta cũng trở nên nghèo khó để làm cho anh chị em mình được trở nên giàu có, hạnh phúc. Đó là lý tưởng của đời thánh hiến.Sự nghèo khó bắt nguồn từ Đức Kitô, Ngài đã trở nên nghèo khó để tất cả chúng ta được trở nên giàu có. Đó là lời thánh Phaolô gửi cho hết mọi người chúng ta. Sống nghèo khó là để thăng tiến đời sống của con người trong chiều kích tâm linh, giúp con người ý thức mình nghèo khó trước mặt Thiên Chúa và được trở nên giàu có nhờ tình yêu của người.Các Thánh Giáo phụ cổ vũ sự nghèo khó để rồi sống cho các anh em nghèo khổ trên trái đất này. Với thánh Ambrosio: Sự nghèo khó là nhân đức mẹ, chiếm vị trí hàng đầu trong tất cả mọi nhân đức. Chính vì nghèo khó mà mỗi ngày người ta gắn bó với Đức Giêsu hơn, chính nhờ đức nghèo khó mà người ta khiêm nhường hơn, tin tưởng phó thác hơn vào nguồn ân sủng thiêng liêng của Chúa Kitô.Sự nghèo khó được diễn tả dưới sự từ bỏ, từ bỏ tất cả những gì là thế gian, sự giàu sang phú quý và những cám dỗ của nó. Từ bỏ như trong tinh thần của Kinh Lạy Cha: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày.” Đó là sự từ bỏ để rồi lãnh nhận từ Thiên Chúa sự ân cần lo lắng cho cuộc sống hằng ngày.Con người một khi quy hướng tâm trí về Thiên Chúa sẽ làm cho con người thấy rằng cuộc sống này chỉ là cuộc sống tạm bợ nhưng đã mang tính cánh chung.Sự giàu có người môn đệ cần theo đuổi là sự khôn ngoan của Tin Mừng, nó khác với sự khôn ngoan của con người, nó được diễn tả trong mầu nhiệm thập giá. Khi thập giá đối với dân ngoại là sự điên rồ, thì đối với Thiên Chúa đó là sự khôn ngoan, giàu sang phú quý, sự sung mãn của Thiên Chúa được biểu lộ. Cho nên, theo truyền thống của Giáo Hội ngày xưa, người ta cổ vũ sự nghèo khó là để đi tìm kiếm Thiên Chúa nhiều hơn. Chính vì thế trong những thế kỷ đầu của Giáo Hội xuất hiện những đan viện, người ta rút vào cuộc sống ẩn dật để tìm kiếm Thiên Chúa.Trong đời sống đan viện ngày xưa, người ta có những cách thức để diễn tả sự nghèo khó. Một trong những cách thức đó là đời sống độc thân, vì đi vào đời sống độc thân là chấp nhận sự cằn cỗi, sự nghèo khó của đời sống. Và cách thức diễn tả sự nghèo khó là sự khổ chế: đặt mình vào kỷ luật của cộng đoàn. Chính khi chúng ta tuân giữ quy luật của đời sống cộng đoàn, một cách nào đó chúng ta giữ sự nghèo khó của đời sống chúng ta là đặt mình trong một giới hạn, một kỷ luật của cộng đoàn, vì sự phát triển của cộng đoàn.Có ba hình thức diễn tả sự khổ chế
Truyền thống thứ hai của sự nghèo khó là đời sống hành khất, vì trong đời sống hành khất người ta diễn tả triệt để sự khiêm tốn, phó thác. Đặt mình hoàn toàn tin tưởng phó thác vào tay Thiên Chúa, vào sự giúp đỡ của anh em nhân loại của mình.Hình thức thứ ba diễn tả sự nghèo khó trong truyền thống Giáo Hội là để của cải chung, hình thức này đã kéo dài trong lịch sử Giáo Hội. Và trở thành quy luật dưới thời thánh Augustinô.Hình thức để của cải chung là một lời “không” với quyền tư hữu, khước từ quyền sở hữu cá nhân, và mở ra một con đường của tình huynh đệ. Cho nên, khi người ta bỏ của cải của mình như một sự từ bỏ, nó còn nhằm khía cạnh tích cực: đời sống huynh đệ, làm cho người ta thấy sự hiệp thông, hoàn toàn dấn thân chia sẻ cho nhau tất cả khát vọng, tâm tình, lẽ sống của mình.Lao động trong truyền thống của các đan viện mang một chiều kích thiêng liêng, và lao động trở thành chứng từ cho sự nghèo khó.Từ bao thế kỷ nay, lao động chân tay, đó là hoạt động nổi bật nhất của đời sống tu trì. Hoạt động này đảm bảo cho đời sống tu trì không lệ thuộc vào vật chất. Lao động được các tu sĩ đảm nhận như chứng từ của đời sống tu trì, lao động ở đây không mang tính chất thương mại nhưng trở nên một công việc mang tính chất tông đồ và ngày nay công việc làm của người tu sĩ được coi như một việc góp phần xây dựng vương quốc của Thiên Chúa.Công đồng Vatican II, cập nhật hóa đời sống tu trì. Trong thế giới hôm nay đã đề cập đến sự nghèo khó trong đời sống thánh hiến, một sự lựa chọn để cụ thể hóa việc dấn thân theo Đức Kitô. Công đồng dựa vào Kinh Thánh cho thấy rằng sự nghèo khó là phương thế không thể thiếu được để bước theo Đức Kitô.Sau công đồng, giáo huấn về sự nghèo khó trong đời sống tu trì được khai triển một cách mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Đời sống nghèo khó là một chứng từ tình yêu của Thiên Chúa. Và sự nghèo khó bây giờ không mang chiều kích cá nhân nhưng mang chiều xã hội. Người ta sống nghèo khó để trả lời cho những tiếng kêu than của những anh em nghèo.Người ta tìm thấy trong sự nghèo khó một sự cổ vũ cho hòa bình, chia sẻ, phục vụ, cho nên các giáo huấn sau công đồng mời gọi các cộng đồng tu sĩ hoạt động và làm việc nhiều hơn, không chỉ để bảo đảm cho đời sống của mình mà còn để giúp đỡ người khác. Sống nghèo không phải để người ta thấy mình nghèo nhưng là để làm chứng cho ơn gọi của chúng ta.Vậy sự nghèo khó trong đời sống tu trì khơi nguồn cho nền thần học: hy vọng sự cánh chung. Xã hội hôm nay bám vào giá trị vật chất, thì đời sống tu trì hướng về tương lai, chiều kích cánh chung ý nghĩa và giá trị của sự nghèo khó là tin tưởng phó thác vào một vị Thiên Chúa trung thành. Chính trong sự nghèo khó mà người ta làm chứng về sự chết và phục sinh của Đức Kitô. Vì trong sự phục sinh, Đức Kitô đã làm chứng cho Thiên Chúa, lật đổ hết mọi giá trị trần gian. Người sống đời nghèo khó giờ đây trở nên sự biến đổi của Tin Mừng, và sự nghèo khó trở nên lời xin vâng trước lời mời gọi của Thiên Chúa.Người sống nghèo là sống trong sự chờ đợi: chờ đợi Thiên Chúa là Đấng đến lấp đầy những khát vọng của những người nghèo. Chờ đợi những ân huệ của Thiên Chúa trong sự khiêm tốn và trong sự thật nhìn nhận mình bất toàn, sự chờ đợi này làm cho người ta luôn ngửa bàn tay hướng về Thiên Chúa.Khi diễn tả sự nghèo khó của con người luôn ngửa bàn tay hướng về Thiên Chúa sẽ dẫn đến một con người luôn đón nhận, đón nhận Thiên Chúa, và đón nhận chính mình một cách sâu sắc hơn. Vì khi sống nghèo là người ta chấp nhận những giới hạn của mình, đón nhận và đón tiếp tha nhân một cách dễ dàng hơn.Cuối cùng người nghèo khó là người sống trong sự cầu nguyện. Bởi vì sự cầu nguyện nói cho chúng ta rằng chúng ta cần Thiên Chúa, những người nghèo là những người cần đến Thiên Chúa nhiều nhất. Lời cầu nguyện là sự khao khát Thiên Chúa, chính trong lời cầu nguyện mà chúng ta thấy một sự gặp gỡ giữa sự giàu có phong phú của Thiên Chúa và sự nghèo khó của con người. Người sống đời cầu nguyện là người biết khiêm tốn ăn mày lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều này được diễn tả qua hành động cầu nguyện không thể thiếu được trong đời sống tu trì đó phụng vụ giờ kinh. Lời kinh phụng vụ là lời ca ngợi Thiên Chúa, lời ca ngợi xuất phát từ con tim của một người nghèo, lời ca ngợi về những hồng ân đã lãnh nhận: hồng ân về ơn cứu độ và lời Thiên Chúa.Chúng ta thấy sự nghèo khó trở nên một thái độ chứ không phải một thói quen. Đó là một sự lựa chọn có ý thức luôn được canh tân và đổi mới. Sự chọn lựa nghèo khó này không phải luôn dễ dàng, có khi phải dùng hết năng lực của chúng ta để diễn tả sự nghèo khó. Sự nghèo khó luôn là một hy vọng, niềm hy vọng mỗi ngày làm chúng ta được biến đổi nhiều hơn, mỗi một giây phút trong cuộc đời chúng ta chết cho thế gian và sống cho Thiên Chúa. Chính vì thế mà sự nghèo khó mang tính chất vượt qua, phục sinh ngay trong những thực tại trần thế. Chính vì thế, sự nghèo khó mang giá trị bất tận khi chúng ta thực hiện trong đời sống chúng ta. |
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Võ